Trống Chầu là nhạc cụ gõ, họ màng rung xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu đời. Trong nghệ thuật Chèo nó có tên là Trống Đế, còn trong Ca Trù nó có tên là Trống…
Văn Hóa - Lịch Sử· 23/06/2025· 0 lượt xem
Trống Chầu là nhạc cụ gõ, họ màng rung xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu đời. Trong nghệ thuật Chèo nó có tên là Trống Đế, còn trong Ca Trù nó có tên là Trống Chầu.
Trống Chầu có hai mặt trống hình tròn, đường kính bằng nhau khoảng 15 cm. Mặt trống thường là da nách trâu nạo mỏng (rất dai và bền) đủ sức chịu đựng độ cǎng mặt trống. Đường viền da bịt mặt trống trùm xuống thân trống khoảng 3 cm, được đóng bằng đinh tre. Da trống căng nhưng phải định âm tương ứng giọng hát của diễn viên. Tang trống cao khoảng 18 cm, bằng gỗ mít nguyên khúc gọi là tang liền, song có khi bằng những mảnh gỗ mít chấp lại, sơn phết bên ngoài. Hai dùi trống dài khoảng 25 cm, bằng gỗ cứng. Phía đầu tay cầm to hơn phía đầu gõ vào mặt trống. Hình thức diễn tấu: “hòa tấu” trong dàn nhạc Ca trù Chức năng xã hội: dùng để khen, chê tiếng đàn, tiếng hát trong nghệ thuật Ca trù. Âm thanh Trống Chầu cao, vui, lảnh lót, hơi đanh nhưng gọn tiếng. Nghệ nhân đánh vào nhiều vị trí khác nhau trên trống tạo nên nhiều âm thanh khác nhau: • Đánh vào giữa mặt trống, tiếng trống nghe vang, giòn. • Đánh vào mặt trống nhưng giữ nguyên dùi, âm thanh sẽ khô, xỉn. • Đánh vào cạnh mặt trống nghe như tiếng phách.
Khi được kết hợp tài tình kỹ thuật các lối đánh ở mặt và tang trống, gây ra sự đối lập nhưng lại luôn hài hòa về sắc thái cùng âm thanh: • Ngón vê: Hai tay thay đổi nhau gõ thật nhanh và liên tục hai bên tang trống và trên mặt trống. • Ngón nóc: Hai tay thay đổi gõ nhanh vào tang trống, nhưng thường là nǎm tiếng một, tiếng sau cùng có độ ngân bằng bốn tiếng đầu.
Trống Chầu có ở Việt Nam từ lâu đời, được coi là nhạc khí gõ cao âm quan trọng, không thể thiếu trong Ca Trù và sân khấu Chèo truyền thống. Ngoài ra trống cũng được dùng trong một vài thể loại ca nhạc dân tộc khác như Chầu Vǎn nhưng không phổ biến bằng.
Ảnh kèm theo

